Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Dấu hiệu khi bị thoát vị đĩa đệm

Sau lần bị ngã (cách đây khoảng 2 tháng), tôi thấy cột sống vùng thắt lưng bắt đầu bị đau nhiều hơn. Thời gian gần đây chân phải cũng đau nhức dọc từ hông xuống gót chân; khi ngủ, chỉ cần thay đổi tư thế là đau. Xin hỏi, tôi mắc bệnh gì, chữa trị ở đâu?

Nguyễn Thanh Vinh (Thái Nguyên)

Theo những gì bạn mô tả có thể tạm kết luận: Bạn bị thoát vị đĩa đệm dẫn đến làm hẹp ống sống, đồng thời có kèm thêm tình trạng co rút cơ dựng sống, nên gây ra tình trạng đau khi cử động vùng cột sống. Triệu chứng của bệnh là đau dọc theo chân nhiều hơn đau thắt lưng, khi gắng sức hay trong một số động tác thấy đau rất nhiều ở mông và dọc chân; tê tùy vị trí rễ thần kinh bị chèn ép, như tê mặt ngoài bàn chân và gót chân, mặt ngoài bắp chân hoặc mu bàn chân, mặt trước xương chày, mặt trước đùi. Bạn nên đến bệnh viện có chuyên khoa chấn thương chỉnh hình hoặc thần kinh điều trị. Các bác sĩ có thể sẽ cho làm một số xét nghiệm như chụp CT scanner hay MRI để xác định mức độ hẹp ống sống hay tình trạng chèn ép rễ thần kinh để từ đó có hướng xử trí thích hợp. Khi khám bệnh, thầy thuốc có thể phát hiện hội chứng chèn ép tủy hay rễ thần kinh. Các rễ thần kinh hay bị tổn thương là L3, L4, L5 hay S1 (thường chỉ bị một rễ thần kinh). Thông thường, các bác sĩ sẽ cho bạn dùng thuốc paracetamol, tập vật lý trị liệu dưới nước. Nếu điều trị nội khoa đúng phương pháp và có chế độ nghỉ ngơi hợp lý bạn sẽ khỏi bệnh. Khi những biện pháp này thất bại có thể dùng tới biện pháp giảm đau bằng kỹ thuật tiêm thấm các dẫn xuất của cortisone. Có thể dùng các dẫn xuất của opioide nhưng cần phải cẩn thận. Trong trường hợp nặng hơn khi có những tổn thương thần kinh nặng dẫn đến teo cơ, rối loạn tiêu tiểu có chỉ định phẫu thuật.

BS. Hải Nguyên

Dấu hiệu viêm ruột thừa cấp

Nguyễn Văn Nam(Bắc Ninh)

Viêm ruột thừa là bệnh lý nguy hiểm cần được cấp cứu chữa trị càng sớm càng tốt. Thời gian diễn tiến của bệnh thường rất nhanh chóng và nguy hiểm.

Đau bụng là dấu hiệu đầu tiên nhất khi ruột thừa bắt đầu viêm. Đau thường bắt đầu từ rốn và tăng lên sau 6 -24 giờ. Cơn đau này lúc đầu hơi âm ỉ và khi bệnh trở nặng thì mới đau dữ dội mà không có dấu hiệu thuyên giảm kèm theo trướng bụng. Buồn nôn đi kèm với nôn kèm theo đau bụng vùng hố chậu phải và không giảm dần theo thời gian, đó có thể là viêm ruột thừa. Sợ thức ăn, hoặc không cảm thấy đói cũng là dấu hiệu phổ biến của viêm ruột thừa. Táo bón hoặc tiêu chảy. Sốt là dấu hiệu xuất hiện khá muộn và báo hiệu cho biết bệnh viêm ruột thừa đã chuyển sang giai đoạn khá nặng. Tuy nhiên, cơn sốt thường không quá cao, thông thường chỉ trong khoảng 37,2 - 38,30C nên rất nhiều người bệnh chủ quan. Co cứng thành bụng là một dấu hiệu của viêm ruột thừa khi kết hợp với các dấu hiệu khác.

Khi có các dấu hiệu trên, người bệnh nên đi khám ngay bởi diễn tiến của viêm ruột thừa rất nhanh. Cơn đau sẽ tăng dần và ruột thừa có thể bị vỡ gây nguy hiểm cho tính mạng.

BS. Hữu Hạnh

Ổ chứa muỗi gây sốt xuất huyết song hành trong lẫn ngoài nhà!

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính và sẽ lưu hành lâu dài, có thể gây thành dịch. Một người trong đời có thể mắc bệnh sốt xuất huyết lần thứ 2 và nhiều lần sau đó.

Muỗi vằn gây bệnh sốt xuất huyết đẻ trứng, sinh sản chủ yếu ở dụng cụ chứa nước sạch xung quanh nhà. Đồng thời, loài muỗi này cũng thích đậu trên quần áo, chăn màn, dây phơi và các vật dụng trong nhà. Muỗi đốt người vào ban ngày, đốt mạnh nhất là sáng sớm và chiều tối.

Người dân vẫn quan niệm sai lầm khi ngừa sốt xuất huyết

Theo TS. Phu, “tổng vệ sinh như khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm để phòng sốt xuất huyết” là một tuyên truyền còn thiếu sót, trên thực tế không phải như vậy vì muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết thích đẻ nơi nước sạch.

Ổ chứa muỗi gây sốt xuất huyết song hành trong lẫn ngoài nhà!

Kiểm tra lăng quăng trong vật dụng chứa nước

“Trước đây, người ta thường cho rằng chỉ có khoảng 5 - 6 loại dụng cụ chứa nước, nhưng đến nay, qua kiểm tra, chúng tôi phát hiện ra vài ba chục dụng cụ chứa nước khác nhau. Đặc biệt qua khảo sát các tỉnh phía Nam, vật phế thải trở thành ổ chứa muỗi mang mầm bệnh rất đa dạng và người ta khó hình dung nổi, như: vỏ cơm hộp, vỏ dừa, thậm chí nước đọng trên một lớp đất trồng cây cũng có lăng quăng, hốc cây. Nhiều vật dụng trong nhà cũng là nơi muỗi đẻ như bình hoa, ly đựng nước trên bàn thờ, các chậu cây thủy sinh…” TS. Phu khuyến cáo.

Mưa nhiều, nhiệt độ trung bình trên 200C là điều kiện thuận lợi phát sinh đàn muỗi. Mưa nhiều, với dụng cụ chứa nước đa dạng như vậy, hết đợt muỗi này đến đợt muỗi khác, chúng ta vừa giải quyết đợt lăng quăng này lại đến đợt lăng quăng khác xuất hiện.

“Vì vậy, hàng tuần, chúng ta phải thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng, bằng cách thả cá vào dụng cụ chứa nước lớn; lật úp các loại thau rửa, dụng cụ chứa nước không sử dụng; thay nước bình hoa; bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn; loại bỏ các vật phế liệu, các hốc nước tự nhiên không cho muỗi đẻ trứng như chai, lọ, mảnh chai, vỏ dừa, mảnh lu hay ly vỡ, vỏ xe cũ, hốc cây, bẹ lá…”, TS. Phu hướng dẫn.

Dịch sốt xuất huyết vẫn còn phức tạp

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo, bệnh sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp, gia tăng trên diện rộng, với 128 quốc gia có lưu hành bệnh, hơn 3,9 tỉ người sống trong vùng có nguy cơ bị mắc sốt xuất huyết. Hàng năm có khoảng 390 triệu người nhiễm bệnh. Tại Việt Nam, từ đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 80.555 trường hợp mắc (hơn 69.000 ca nhập viện), với 24 ca tử vong. So với cùng kỳ 2016, số trường hợp nhập viện tăng 33,5%. Số ca mắc vẫn tập trung chủ yếu tại khu vực phía Nam (57,8%) và miền Trung (16,8%).

Theo các chuyên gia y tế dự phòng và Viện Pasteur TP.HCM, nguyên nhân của sự gia tăng dịch bệnh sốt xuất huyết thời gian qua là do mùa hè đến sớm, nhiệt độ trung bình tại hầu hết các khu vực cao hơn các năm trước, tại khu vực miền Nam, cả nhiệt độ và lượng mưa đều tăng cao so với các năm trước đây dẫn đến muỗi truyền bệnh phát triển mạnh.

“Bên cạnh đó, môi trường tại các công trình xây dựng, xí nghiệp, nhà trọ, lán trại không được quan tâm xử lý dẫn đến phát sinh các ổ lăng quăng của muỗi truyền bệnh. Trong khi đó, sự chủ động phối hợp của người dân với các cơ quan như ngành Y tế trong công tác phòng chống sốt xuất huyết chưa cao. Việc triển khai biện pháp phun hóa chất và diệt lăng quăng ở khu vực thành thị gặp nhiều khó khăn, không triệt để. Một số nơi bệnh gia tăng do nhiều năm không có dịch nên miễn dịch cộng đồng giảm”, TS. Phu tổng kết.

Biểu hiện của bệnh:Thể bệnh nhẹ:-Sốt cao đột ngột 39 - 40 độ C, kéo dài 2 - 7 ngày, khó hạ sốt.- Đau đầu dữ dội ở vùng trán, sau nhãn cầu.- Có thể có nổi mẩn, phát ban.Thể bệnh nặng:Bao gồm các dấu hiệu trên kèm theo một hoặc nhiều dấu hiệu sau:- Dấu hiệu xuất huyết: chấm xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, vết bầm tím chỗ tiêm, nôn/ói ra máu, đi cầu phân đen (do bị xuất huyết nội tạng).- Đau bụng, buồn nôn, chân tay lạnh, người vật vã, hốt hoảng (hội chứng choáng do xuất huyết nội tạng gây mất máu, tụt huyết áp), nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

Xử trí ho cho thai phụ

Ho có thể do nhiễm khuẩn hoặc không do nhiễm khuẩn là một trong số các bất thường sức khỏe phụ nữ mang thai thường gặp. Ho trong khi mang thai có thể gây hại cho em bé hay không - đặc biệt là khi triệu chứng ho kéo dài? Mối liên quan giữa ho và phát triển thai nhi, các biện pháp phòng và xử trí ho trong thai kỳ… bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu thêm về vấn đề này.

Nguyên nhân gây ho trong thai kỳ

Thực tế không dễ dàng ngăn ngừa một cơn ho, vì bản chất của ho là phản xạ để làm sạch đường thở, loại trừ và tống xuất các chất kích thích và chất nhầy ra khỏi đường hô hấp. Có một số nguyên nhân gây ho thường gặp ở phụ nữ mang thai:

Do nhiễm virut, cảm cúm: Trong trường hợp này, bạn thường không cần dùng thuốc trị ho nếu do nhiễm virut gây ra hoặc cảm lạnh thông thường, bệnh thường thuyên giảm sau 1-2 tuần.

Phụ nữ thường dễ gặp tắc nghẽn mũi trong suốt thai kỳ và có thể gây ho. Sự gia tăng mức estrogen trong thai kỳ cũng có thể dẫn đến sưng phù nề niêm mạc mũi góp phần làm tắc nghẽn mũi.

Do dị ứng, chất kích thích trong không khí ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến đường thở gây ra ho. Khi bị dị ứng với côn trùng hoặc một số thực phẩm nhất định cũng gây ho. Do viêm họng, viêm phế quản: ho thường đi kèm với tăng tiết chất nhầy; Do bệnh hen phế quản: Bạn có thể bị khó thở đi kèm với ho; Do mắc bệnh ho gà: Là một bệnh nhiễm khuẩn, biểu hiện ho dữ dội. Do vậy, phụ nữ mang thai nên tiêm ngừa vắc-xin phòng ho gà giữa tuần thứ 27 và tuần thứ 36 của thai kỳ, điều này cũng sẽ giúp bảo vệ em bé trong hai tháng đầu sau khi sinh.

Thai phụ có thể kê cao gối khi nằm, nâng cao đầu để giảm ho.

Thai phụ có thể kê cao gối khi nằm, nâng cao đầu để giảm ho.

Xử trí ho khi mang thai

Bạn có thể thực hiện một số phương pháp sau để kiểm soát tốt tình trạng ho và không dùng thuốc bằng cách: Uống đủ nước. Trong thời gian mang thai, bạn cần uống khoảng 8 ly nước mỗi ngày và nhiều hơn, nước làm ẩm họng và đường hô hấp, làm dịu cơn ho và dễ tống xuất chất nhầy. Nếu bạn bị ho, khó chịu do ho, bạn có thể dùng nước ấm pha với chanh. Nước mật ong trộn với nước nóng cũng có thể giúp ích giảm ho.

Hạn chế tiếp xúc với không khí ô nhiễm, các chất kích thích tiềm ẩn như bụi, các sản phẩm làm sạch nhà cửa và vật dụng, nước hoa hoặc các chất gây dị ứng. Duy trì một chế độ ăn uống cân bằng và thêm nhiều trái cây và rau quả trong chế độ ăn hàng ngày. Nếu bạn biết bạn đang ở xung quanh ai đó đang bị cảm cúm, nên tránh tiếp xúc với người bị bệnh. Cố gắng rửa tay thường xuyên hơn khi bạn ở chung quanh những người bị cảm lạnh hoặc ho. Ngủ đủ giấc, nghỉ ngơi nhiều trong thời gian mang thai. Các cơn ho của bạn có thể trở nên tồi tệ hơn khi bạn nằm xuống, bạn có thể kê cao gối khi nằm, giữ đầu của bạn nâng cao để giảm ho.

Sau khi thực hiện tích cực một số biện pháp điều trị tại nhà mà tình trạng ho không thuyên hoặc ho không cải thiện trong vài ngày, ho kèm sốt cao hơn 38oC (102oF), ho ra chất nhầy thay đổi màu sắc, hoặc ho đi kèm với đau ngực hoặc thở khò khè… bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Lời khuyên của thầy thuốc

Sự thật là bạn có cảm nhận bụng di chuyển lên xuống trong khi ho, nhưng nó không làm tổn thương thai nhi về mặt thể chất. Do nước ối trong bào thai hoạt động như một lớp đệm, một chất hấp thụ và chống sốc để bảo vệ em bé khỏi bị rung lắc, chống lại tiếng ồn và áp lực do ho gây ra. Nếu bạn cảm thấy căng cơ bụng và rung lắc quá nhiều, bạn có thể sử dụng tay để giữ bụng và hỗ trợ vùng bụng dưới khi ho.

Mặc dù ho trong khi mang thai có thể không gây hại cho em bé, nhưng triệu chứng ho có thể cho biết các rối loạn sức khỏe tiềm ẩn ở cơ thể mẹ đang mắc phải như bệnh dị ứng, hen suyễn hoặc nhiễm khuẩn hô hấp. Những tình trạng này có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ và rõ ràng sẽ dễ ảnh hưởng đến em bé. Điều bạn cần lưu ý là hạn chế dùng thuốc giảm ho trong khi mang thai, ngay cả những loại thuốc cho bệnh cảm thông thường cũng không an toàn. Để tránh bị cảm lạnh hoặc ho, phụ nữ mang thai cần thực hiện đầy đủ chế độ dinh dưỡng cân bằng và bổ dưỡng, ngủ đủ giấc, rèn luyện thể lực (tập thể dục) phù hợp, nhẹ nhàng, đều đặn. Đi khám thai định kỳ để được theo dõi, tầm soát, tiêm phòng, uống đủ liều các loại vitamin, acid folic và các chất cần thiết theo hướng dẫn của bác sĩ.

BS. Nguyễn Hải Lê

Cách dập tắt cơn bốc hỏa!

Theo một thống kê có đến 75% số phụ nữ ở tuổi mãn kinh bị cơn nóng bừng (bốc hỏa). Trong đó nhiều người bị kéo dài trên 5 năm sau khi tắt kinh, một số người chỉ có dấu hiệu nhẹ và không thường xuyên, số khác lại có những biểu hiện rất nặng và nhiều lần mỗi ngày.

Những năm gần đây, các biểu hiện của thời kỳ mãn kinh (menopause) của phụ nữ được biết đến nhiều hơn do kết quả nghiên cứu về các tác hại của thuốc nội tiết tố estrogen và progesteron thường dùng điều trị cơn bừng bốc hỏa ở phụ nữ sau mãn kinh. Trong những triệu chứng của thời kỳ mãn kinh, cơn nóng bừng là một triệu chứng khó chịu nhất ảnh hưởng bất thường đến cảm giác và sức khỏe của phụ nữ. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy hai chất nội tiết tố nữ estrogen và progesteron dùng để điều trị cơn bốc hỏa rất hiệu nghiệm nhưng có thể gây tác hại cho sức khỏe, nên việc tìm những phương pháp khác để điều trị là một nhu cầu cấp thiết.

Nguyên nhân nào đã gây ra triệu chứng cơn bừng bốc hỏa, hiện nay chưa có câu trả lời thỏa đáng. Người ta chỉ cho rằng cơn bừng bốc hỏa là do những thay đổi của nồng độ nội tiết tố nữ trong máu giảm, xảy ra vào thời kỳ mãn kinh.

Biểu hiện của cơn bốc hỏa

Sau khi mãn kinh, những phụ nữ bị cơn bừng bốc hỏa thường có các biểu hiện sau: Cơn nóng bừng làm phụ nữ cảm thấy một sức nóng có thể ít hay nhiều lan dần khắp người lên đến mặt; Mặt đỏ bừng; Da mặt, thân mình, tay, chân có từng đốm đỏ; Tim đập nhanh, vã mồ hôi; Cơn nóng bừng có thể kéo dài từ một vài phút đến nửa giờ, nhưng đa số sẽ hết sau khoảng 5 phút. Khi cơn nóng bừng dịu xuống, người cảm thấy lạnh. Cơn nóng bừng xuất hiện một cách bất thường, có thể nhiều lần trong một ngày hay vài ngày một lần, hoặc chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện. Vào ban đêm, cơn nóng bừng xảy ra có thể làm phụ nữ mất ngủ. Có người chỉ bị cơn bừng bốc hỏa trên dưới một năm, nhưng người khác lại bị kéo dài trên 5 năm. Có người chỉ thấy những dấu hiệu nhẹ và ít cơn, số khác lại gặp những biểu hiện nặng và xảy ra nhiều cơn trong một ngày. Tuy nhiên có nhiều phụ nữ không hề có cơn bừng bốc hỏa xuất hiện trong suốt thời gian sau mãn kinh.

Chữa trị cơn bốc hỏa như thế nào?

Thực hiện một chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng hợp lý có thể làm giảm nhẹ triệu chứng của cơn bốc hỏa. Để điều trị cơn bốc hỏa, có thể áp dụng một hay nhiều phương pháp sau đây:

- Giữ mát cho cơ thể: Nếu tăng nhiệt độ của cơ thể, dù ít cũng có thể gây ra cơn bốc hỏa. Do đó phụ nữ cần giữ mát bằng cách ở trong phòng thoáng, mở cửa sổ hoặc sử dụng máy điều hòa hay quạt điện. Khi cảm thấy cơn nóng bừng sắp xuất hiện, có thể hạ nhiệt bằng cách uống nước lạnh và các cách làm mát cơ thể thông thường.

- Ăn uống hợp lý: Tránh các thức ăn cay nóng như tiêu, tỏi, ớt, rượu, bia, nước chè, cà phê..., kiêng hẳn những thức ăn nào làm cho cơ thể dễ bị nóng bừng.

- Thư giãn tinh thần: Luyện tập dưỡng sinh, tập rung động thư giãn, ngồi thiền, thực tập phương pháp thở sâu và điều hòa hằng ngày có thể làm giảm cơn bừng bốc hỏa.

- Luyện tập thể dục, vận động: Ở tuổi mãn kinh, phụ nữ cần phải tập thể dục hằng ngày và nên tập những cử động làm nóng người và tim đập nhanh hơn, sẽ bớt cơn nóng bừng và ngủ ngon hơn. Có thể tập đi bộ khoảng trên 30 phút mỗi ngày. Tham gia câu lạc bộ dưỡng sinh sẽ giúp phụ nữ luyện tập đều đặn, thường xuyên.

- Không hút thuốc: Nhiều nghiên cứu cho thấy hút thuốc làm tăng cơn bốc hỏa. Ngưng hút thuốc còn làm giảm nguy cơ bị bệnh tim, đột quỵ, ung thư.

- Sử dụng thuốc để điều trị: Nếu áp dụng các phương pháp trên đây không kết quả, có thể dùng một vài thứ thuốc điều trị như sau: Estrogen là thuốc hiệu nghiệm nhất để chữa cơn bốc hỏa, nhưng có nhiều tác hại. Một nghiên cứu sâu rộng cho thấy thuốc này có nhiều phản ứng phụ như làm tăng nguy cơ bệnh tim, ung thư, đột quỵ. Tuy nhiên đối với trường hợp cơn bừng bốc hỏa quá nặng và không có nguy cơ về bệnh tim mạch, ung thư, có thể uống estrogen nếu lợi ích của việc dùng thuốc lớn hơn tác hại; Thuốc progesteron cũng rất hiệu nghiệm để chữa cơn bốc hỏa và sử dụng theo chỉ định của bác sĩ; Các thuốc khác: nhiều nghiên cứu cho thấy các thuốc dùng để chữa bệnh trầm cảm, tăng huyết áp có thể giúp giảm cơn bốc hỏa như: venlafaxine (Effexor XR), paxil, prozac, celexa... dùng với liều thấp có kết quả tốt.

Song các thuốc này không hiệu nghiệm bằng estrogen và cũng có những tác dụng phụ như buồn nôn, chóng mặt hay rối loạn tình dục...; Clonidine là thuốc chữa tăng huyết áp, khi sử dụng có thể làm giảm số lần bị cơn bốc hỏa nhưng có một số tác dụng phụ như chóng mặt, buồn ngủ, khô miệng và táo bón. Gabapentin là thuốc chữa cơn bừng bốc hỏa khá hiệu nghiệm nhưng có các tác dụng phụ như gây buồn ngủ, chóng mặt, buồn nôn.

BS. Trần Thục Anh

Khắc phục bệnh trĩ, cách gì?

(Ngonhatduyen94@gmail.com)

Trên lâm sàng, trĩ được chia ra trĩ nội và trĩ ngoại và trĩ hỗn hợp, dựa vào vị trí của búi trĩ xuất phát từ lớp niêm mạc dưới đường lược hay trên đường lược. Có 4 độ trĩ (độ 1, 2, 3 và 4). Trĩ nội độ 1 thì không thấy búi trĩ sa ra ngoài nhưng bệnh nhân đi ngoài táo có thể thấy chảy máu tươi thành tia. Nguyên nhân gây bệnh thường do táo bón, do ngồi nhiều... Khi táo bón làm nứt kẽ hậu môn gây nhiễm khuẩn và đau, vì do đau nên người bệnh không dám đi đại tiện dẫn đến càng táo, tạo vòng luẩn quẩn. Để khắc phục tình trạng đau rát hậu môn, bệnh nhân cần rửa hậu môn sau mỗi lần đại tiện bằng nước ấm và hằng ngày, buổi tối trước khi đi ngủ nên ngâm hậu môn bằng nước muối loãng đủ ấm giúp da hậu môn mềm và nhanh liền vết nứt. Trường hợp của bạn trĩ nhe ̣ (độ 1) thì chỉ cần dùng thuốc uống và thực hiện chế độ ăn hợp lý bệnh sẽ hết. Điều quan trọng là phòng ngừa để bệnh không nặng thêm bằng thực hiện chế độ ăn hợp lý như uống nhiều nước (1,5-2 lít/ ngày), chế độ ăn nên chọn thực phẩm nhuận tràng như: rau lang, mồng tơi, khoai tây, khoai lang, cà rốt... Hạn chế chất cay như ớt, tiêu, ăn chất dầu mỡ phù hợp... Chú ý, lo lắng quá đôi khi cũng là nguyên nhân rối loạn co thắt đại tràng dẫn tới táo bón làm bệnh thêm trầm trọng.

BS. Trần Quang Nhật

Loại bỏ nguy cơ hiếm muộn do bệnh quai bị: Cách gì?

Lớp trẻ (thanh thiếu niên) không thể xem thường bệnh quai bị vì bệnh có thể gây biến chứng vô sinh. Đây là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan theo đường hô hấp. Khi cơ thể chưa có kháng thể chống lại virut quai bị thì rất dễ mắc bệnh. Vì vậy, cần hết sức cảnh giác đề phòng bệnh phát triển thành dịch.

Đặc điểm của bệnh là gì?

Bệnh quai bị do một loại virut Rubulavirus thuộc họ Paramyxovirus gây nên. Bệnh khởi đầu là viêm tuyến nước bọt (tuyến mang tai). Thời kỳ ủ bệnh khoảng vài ba tuần. Bệnh khởi phát có sốt cao đột ngột (38 - 390C) kèm theo đau đầu, mệt mỏi toàn thân, chán ăn, ngủ kém, rất dễ nhầm với viêm họng, viêm xoang, viêm phế quản cấp tính. Sốt cao kéo dài từ 1 - 3 ngày, tuyến nước bọt bị sưng to và sau vài ngày tiếp tục sưng tuyến nước bọt còn lại. Đặc điểm của sưng tuyến nước bọt là sưng 2 bên nhưng kích thước không đối xứng (một bên sưng to, một bên có thể nhỏ hơn). Tuyến nước bọt sưng to có thể làm cho cằm, cổ bạnh ra gây biến dạng cả bộ mặt, kèm theo nhai khó, nuốt khó. Da vùng tuyến nước bọt sưng, căng, bóng, không đỏ nhưng khi sờ vào vùng da đó thấy nóng và bệnh nhân kêu đau. Sốt thường kéo dài trong vòng 10 ngày sẽ giảm và tuyến nước bọt bắt đầu giảm sưng, đau. Đặc điểm nổi bật của viêm tuyến nước bọt do virut quai bị là không bị hóa mủ (trừ khi có bội nhiễm thêm vi khuẩn khác), đây là một đặc điểm rất cần được lưu ý trong chẩn đoán bệnh quai bị.

Bệnh quai bị thường kèm theo sưng tuyến mang tai.

Ngoài viêm tuyến nước bọt, sau khoảng 5 - 7 ngày có thể viêm tinh hoàn (nam giới), buồng trứng (nữ giới). Viêm tinh hoàn do virut quai bị hay gặp nhất ở lứa tuổi đang dậy thì và cả lứa tuổi trưởng thành (thanh thiếu niên), tỷ lệ bị viêm tinh hoàn khoảng từ 10 - 30%. Viêm tinh hoàn thường xảy ra một bên (tỷ lệ viêm tinh hoàn 2 bên gặp ít hơn). Khi bị viêm tinh hoàn, sẽ sốt trở lại, đôi khi thân nhiệt còn tăng hơn lúc ban đầu của viêm tuyến nước bọt. Tinh hoàn sưng to, đau, khi sờ vào tinh hoàn thấy mật độ chắc và nhìn thấy da bìu bị phù nề rõ rệt, căng, bóng, đỏ. Ngoài ra, có thể xuất hiện viêm mào tinh hoàn, viêm thừng tinh hoàn, thậm chí xuất hiện tràn dịch màng tinh hoàn trong những trường hợp bệnh nặng. Viêm tinh hoàn kéo dài từ 3 - 5 ngày sẽ hết sốt. Tinh hoàn cũng giảm dần độ sưng nề và giảm đau cho đến 3 - 4 tuần lễ sau đó mới hết sưng và hết đau hẳn.

Điều đáng lo ngại nhất của viêm tinh hoàn là biến chứng teo tinh hoàn. Muốn biết có bị teo tinh hoàn hay không phải theo dõi một thời gian dài khoảng vài tháng mới có thể biết chắc chắn. Tỷ lệ teo tinh hoàn do virut quai bị gây ra rất thấp (khoảng 0,5%). Nếu teo tinh hoàn một bên, mọi chức năng của tinh hoàn còn lại vẫn hoạt động bình thường, nhưng khi đã bị teo cả 2 bên tinh hoàn sẽ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sinh dục, sinh sản và gây vô sinh.

Ngoài ra, một số biến chứng như viêm tụy cấp tính, viêm não, viêm màng não, viêm cơ tim, giảm bạch cầu, tuy không nhiều nhưng có thể đe dọa đến tính mạng của người bệnh cho nên cần hết sức cảnh giác.

Nguồn lây bệnh quai bị là người đang mắc bệnh quai bị lây cho người lành chưa có kháng thể chống virut quai bị và lây theo đường hô hấp.

Khi nghi là bị bệnh quai bị, nên đi khám bệnh để được chẩn đoán chính xác, từ đây sẽ được chỉ định điều trị và có những tư vấn rất quan trọng trong đó bao gồm cho bản thân người bệnh và cả bảo vệ cho người lành có nguy cơ mắc bệnh quai bị. Đặc biệt, người có viêm tinh hoàn (nam giới) hoặc buồng trứng (nữ giới) cần nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường, không vận động mạnh và ăn uống đủ chất dinh dưỡng. Thuốc sử dụng theo đơn của bác sĩ khám bệnh (thường là thuốc hạ nhiệt, giảm đau, thuốc chống viêm và vitamin B, C…). Ngoài ra, người bệnh cần uống nhiều nước (vì sốt làm mất nước). Tránh tiếp xúc với những người mắc bệnh quai bị tối thiểu 10 ngày. Với người bệnh viêm tinh hoàn, cần mặc quần sịp giúp treo nhẹ tinh hoàn lên.

Cần làm gì để không bị bệnh quai bị tấn công?

Cần cách ly người bệnh với người lành (nhất là đối tượng có nguy cơ cao) ít nhất 10 ngày. Người bệnh và người chăm sóc bệnh nhân cần đeo khẩu trang y tế đúng tiêu chuẩn để hạn chế đến mức tối đa virut lây sang người chăm sóc, từ đó chúng lây cho người lành khác. Đối với đối tượng có nguy cơ cao (thanh, thiếu niên, người chưa có miễn dịch chống virut quai bị), cần tiêm vắc-xin phòng bệnh. Đây là biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay để tạo cho cơ thể có đủ kháng thể đặc hiệu chống lại virut quai bị một cách chủ động mỗi khi chúng xâm nhập vào cơ thể.

BS. Việt Thanh

10 cách khắc phục chứng đau ruột thừa tại nhà

Một vài biện pháp dưới đây có thể hỗ trợ giảm cơn đau ruột thừa: 1.Nước ấm Nước ấm có vai trò kép khi mắc bệnh viêm ruột thừa. Thứ nhất, nướ...